Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

31 mẹo phỏng vấn xin việc cực hay !

Nếu như bạn làm tốt, thì phỏng vấn chính là cơ hội đưa bạn đến tới đích mà bạn muốn. Vì vậy, hãy chắc chắn rằng bạn đang chuẩn bị mọi thứ ở mức tốt nhất để có thể thành công cho cuộc phỏng vấn này. Những “bí quyết” sau đây sẽ giúp bạn có được điều đó.

31 mẹo phỏng vấn xin việc cực hay !

Trước buổi phỏng vấn

1. Tìm hiểu về cách thức phỏng vấn
Trước khi tham gia phỏng vấn, bạn cần tìm hiểu xem hình thức của buổi phỏng vấn đó là gì (phỏng vấn hội đồng, phỏng vấn 1-1, phỏng vấn nhóm…), có phải làm bài test hay không, nếu có thì là test về vấn đề gì để chuẩn bị, bao nhiêu ứng viên sẽ tham gia phỏng vấn…

2. Tìm hiểu về vị trí ứng tuyển
Thông thường, các ứng viên chỉ đọc lướt qua thông tin tuyển dụng và bỏ lỡ những thông điệp quan trọng mà nhà tuyển dụng gửi gắm trong đó. Đây là một sai lầm. Bạn cần phân tích kỹ mô tả công việc trong thông tin tuyển dụng, và nghiên cứu xem kinh nghiệm và kỹ năng của bạn sẽ đáp ứng được đến đâu so với yêu cầu công việc. Bạn cũng có thể tìm những ví dụ tương đồng về công việc trước đây và mô tả bạn đã hoàn thành tốt công việc đó như thế nào.

3. Tìm hiểu thông tin về công ty mà bạn sắp đến phỏng vấn
Bạn có thể tìm hiểu về công ty mà bạn sắp đến phỏng vấn qua người thân, bạn bè, website, trang mạng xã hội facebookcủa công ty hoặc các phương tiện thông tin khác. Hãy đọc để ít nhất bạn cũng có thể trả lời được những câu hỏi như: Dịch vụ, sản phẩm, khách hàng và đối thủ cạnh tranh của công ty là gì? Sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi của Công ty? Điều gì đang là niềm tự hào của Công ty? Hoặc điều gì làm nên sự khác biệt của Công ty so với các đối thủ cạnh tranh?

4. Tìm hiểu về người sẽ phỏng vấn bạn
Để tìm thông tin về người sẽ phỏng vấn bạn, ngoài việc liên hệ với bạn bè, người thân có mối liên hệ có thể cung cấp thông tin cho bạn, bạn có thể tìm hiểu thông tin từ mạng xã hội nghề nghiệp LinkedIn, Facebook, Twitter.

5. Chuẩn bị kiến thức về chính bạn
Hãy chuẩn bị tất cả thông tin về bạn như điểm mạnh, điểm yếu (tất nhiên là nói theo hướng tích cực), kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân, các ví dụ minh chứng, trả lời các câu hỏi về tại sao bạn lại chọn công việc bạn đang ứng tuyển, thông tin về bằng cấp của bạn (tại sao bạn lại học khóa học đó, hay là bạn đã học được những gì ở khóa học như vậy), các câu hỏi về cuộc sống hàng ngày của bạn…

6. Xác nhận thời gian và địa điểm mà bạn sẽ tham gia phỏng vấn
Một ngày trước cuộc phỏng vấn, bạn cần liên hệ với công ty để xác nhậnthời gian và người sẽ phỏng vấn hoặc hỗ trợ bạn trong buổi phỏng vấn. Sau đó, hãy đi đến địa điểm mà bạn sẽ tham gia phỏng vấn. Điều này đảm bảo rằng bạn biết đường và tính được thời gian để đến đúng giờ, không lo bị lạc đường hoặc đến muộn do không tìm được địa điểm vào ngày được phỏng vấn.

7. Hình ảnh chuyên nghiệp

Hãy chuẩn bị trang phục và mặc thử vào ngày hôm trước khi phỏng vấn, để đảm bảo bạn có trang phục thật gọn gàng, thoải mái, giúp bạn trở nên chuyên nghiệp trong mắt nhà tuyển dụng. Tất nhiên, bạn cũng đảm bảo rằng đầu tóc, trang điểm, trang sức, quần áo, giày dép của bạn không rườm rà, lạc mốt hoặc lòe loẹt.

8. Tập trả lời các câu hỏi phỏng vấn
Hãy nhờ người thân, bạn bè của bạn giúp bạn tập trả lời trước các câu hỏi mà bạn nghĩ rằng nhà tuyển dụng có thể sẽ hỏi bạn Sau khi xác định chính xác bạn cần trả lời như thế nào, bạn có thể đứng trước gương để luyện tập cho đến khi nào bạn thấy không còn ngượng nghịu hoặc bị vấp khi nói mới thôi.Bằng cách này, bạn sẽ có thể trả lời phỏng vấn một cách trơn tru, mạch lạc, rõ nghĩa và thật sự gây ấn tượng với nhà tuyển dụng.

9. Chuẩn bị trước danh sách câu hỏi để hỏi người phỏng vấn
Sau khi kết thúc buổi phỏng vấn, nhà tuyển dụng thường sẽ dành cơ hội cho bạn hỏi bất kỳ câu hỏi nào bạn muốn. Đây chính là cơ hội để bạn chứng tỏ sự khác biệt giữa mình với các ứng viên khác. Vì vậy, bạn cần chuẩn bị trước danh sách các câu hỏi thể hiện sự quan tâm của bạn đối với công việc, những câu hỏi thể hiện được khả năng, kỹ năng của bạn. Bạn cần tránh những câu hỏi về chế độ đãi ngộ, nếu bạn chưa chắc chắn mình trúng tuyển.

10. Chuẩn bị những thứ mang theo khi đi phỏng vấn
Để thể hiện bạn là người chu đáo và chuyên nghiệp, hãy chuẩn bị các thứ sau: Một túi xách đơn giản, hồ sơ của bạn, một cuốn sổ ghi chép, hai chiếc bút, danh sách những người giới thiệu bạn nếu có và sau cùng là thái độ tích cực, niềm tin vào bản thân rằng bạn là người xứng đáng nhất để được chọn.

11. Thư giãn bằng giấc ngủ ngon trước ngày phỏng vấn
Hãy thư giãn nếu bạn đã chuẩn bị chu đáo cho buổi phỏng vấn. Ngủ thật sâu và không thức khuya quá vào đêm trước hôm phỏng vấn. Cũng không ăn quá nhiều chất, uống rượu bia vào buổi tối trước ngày vì nó có thể là nguyên nhân làm cho bạn uể oải, có thể ảnh hưởng đến dạ dầy của bạn và khiến cho cơ thể bạn có mùi khó chịu.

>> 13 cách tìm việc hiệu quả
>> 7 mẫu đơn xin việc thường gặp

Ngày phỏng vấn

12. Đến sớm để dành nhiều thời gian cho cuộc phỏng vấn
Hãy đến sớm khoảng 10-15 phút. Tránh đi vào giờ cao điểm hay đi vào các con phố đông. Việc đến sớm thể hiện cho nhà tuyển dụng thấy bạn là người có tác phong làm việc nghiêm túc, và cơ hội trúng tuyển của bạn sẽ cao hơn rất nhiều. Khi đến sớm, hãy chỉnh chu lại trang phục, xem lại giấy tờ cần thiết, tạo cho mình sự thoải mái bằng cách đi thăm quan xung quanh công ty và nói chuyện với các ứng viên khác.

13. Khắc phục sự cố trước giờ phỏng vấn
Nếu chẳng may bạn gặp phải vấn đề nào đó mà không tham gia được, hoặc đến muộn, hãy gọi điện cho người phỏng vấn để thông báo về sự cố của mình, và xin phép đến muộn hoặc đổi ngày phỏng vẩn.

14. Những lỗi không nên mắc phải trong cuộc phỏng vấn
Hãy tắt điện thoại của bạn. Trả lời điện thoại khi bạn đang tham gia phỏng vấn, đó là cách nhanh nhất để nhà tuyển dụng loại bạn vì bạn đang làm hộ mất thời gian và để lại ấn tượng rằng bạn không thực sự muốn công việc đang ứng tuyển. Lơ đãng và ngắt lời là những lỗi khôngđược phép mắc phải trong buổi phỏng vấn.
Trong buổi phỏng vấn

15. Hãy chú ý tới ngôn ngữ cơ thể của bạn
Khi gặp nhà tuyển dụng, hãy bắt tay họ cùng với nụ cười trên môi, và đôi mắt của bạn nhìn thẳng vào mắt người phỏng vấn. Điều này khiến nhà tuyển dụng thấy bạn là người có kinh nghiệm, tự tin và đáng tin cậy.

Bạn cũng đừng bỏ qua cử chỉ của đôi tay khi nói chuyện, vì qua đó nhà tuyển dụng sẽ dễ dàng đoán được bạn đang nghĩ gì. Không nên khoanh tay trước ngực, kể cả khi bạn bất đồng quan điểm với nhà tuyển dụng. Cử chỉ gãi tai, gãi cằm sẽ khiến bạn mất điểm ngay lập tức. Đặc biệt bạn không nên nhún vai và bĩu môi, bởi người phỏng vấn sẽ cho rằng bạn không hiểu vấn đề, mất bình tĩnh, thậm chí bất mãn.

16. Thể hiện lòng nhiệt tình và niềm đam mê của bạn đối với công việc
Trong buổi phỏng vấn, nếu bạn truyền được lửa nhiệt tình, lòng đam mê đối với công việc của mình cho nhà tuyển dụng, bạn gần như đã là người chiến thắng.Nhiệt huyết của bạn thông qua những mục tiêu bạn đặt ra trong tương lai sẽ khiến nhà tuyển dụng đánh giá cao những gì bạn muốn cống hiến cho công việc.

17. Hãy nghĩ kỹ và đưa ra câu trả lời phù hợp nhất
Hãy nghĩ thật kỹ trước khi trả lời bất cứ câu hỏi nào. Đừng vội vã. Hãy cẩn thận khi chọn từ ngữ trả lời.Nên dừng lại một chút sau khi tiếp nhận câu hỏi để dành thời gian suy nghĩ câu trả lời. Bằng cách này, không những bạn có thể chuẩn bị kỹ câu trả lời mà còn cho thấy bạn là người suy nghĩ chín chắn trước khi nói. Cũng đừng ngại yêu cầu người phỏng vấn nhắc lại hay đưa thêm thông tin về câu hỏi.Câu trả lời của bạn phải thẳng thắn, dứt khoát,đầy đủ và trọn vẹn nhất

18. Trung thực và không nói dối.
Nói dối là điều không được phép khi bạn tham gia phỏng vấn. Người phỏng vấn có rất nhiều cách để có thể phát hiện ra bạn có nói dối hay không và người chịu hậu quả, không ai khác, sẽ chính là bạn. Vì vậy, nếu bạn không tìm ra câu trả lời, hãy thành thật và nói với người phỏng vấn về điều đó.

19. Áp dụng nguyên tắc một người nói
Lắng nghe thật kỹ và không được ngắt lời khi nhà tuyển dụng đang nói. Đó không chỉ là một tính cách xấu, mà nó còn rất tệ nếu như bạn làm vậy trong buổi phỏng vấn. Hãy chờ cho tới khi họ kết thúc câu hỏi, sau đó bạn hãy đưa ra câu trả lời.

20. Hãy đặt câu hỏi khi có cơ hội
Nếu được nhà tuyển dụng đề nghị đưa ra câu hỏi của bạn, thì đây chính là lúc bạn đưa ra các câu hỏi đã chuẩn bị từ trước. Hãy để người phỏng vấn biết rằng bạn đã tìm hiểu rất kỹ công ty của họ, công việc bạn đang ứng tuyển và bạn là một người rất nhiệt tình.

21. Không tạo áp lực quá lớn cho chính mình
Một tâm trạng minh mẫn, óc hài hước sẽ mang lại một kết quả tuyệt vời. Vì vậy, bạn hãy mang một tinh thần thật thoải mái vào phòng phỏng vấn. Bạn cũng đừng quá quan tâm đến việc trúng tuyển hay không, vì ít nhất bạn cũng sẽ tích lũy được nhiều kinh nghiệm sau cuộc phỏng vấn, thậm chí có thể tạo mối quan hệ tốt đẹp với nhà tuyển dụng.

22. Hãy là chính bạn
Đừng cố gắng để bắt chước một ai đó. Người phỏng vấn muốn biết con người thật của bạn, một ứng cử viên tiềm năng mà họ đang trông đợi.

23. Giữ vững lập trường, quan điểm của bạn trong thời gian phỏng vấn
Trong quá trình phỏng vấn, sẽ có những quan điểm bạn không đồng tình với nhà tuyển dụng. Vì vậy, để khẳng định giá trị bản thân cũng như giữ được bản sắc riêng, bạn cần giữ vững lập trường, quan điểm của bản thân nếu bạn thấy chúng không sai. Tất nhiên, bạn cũng nên linh hoạt giữa nhu cầu của bản thân với khả năng đáp ứng của nhà tuyển dụng nếu bạn đã biết chính xác lý do và cái giá phải trả để có được cơ hội làm việc tại đây, ví dụ như: Cơ hội việc làm này có giá trị như thế nào với bạn? Bạn sẽ phải từ bỏ những gì để có nó? Bạn phải đánh đổi những gì để đảm bảo sẽ thành công với công việc mới? Liệu có những yêu cầu bắt buộc nào không?

24. Tạo cách nói chuyện phù hợp với nhà tuyển dụng
Để tự tin trong thời gian phỏng vấn, bạn nên quan sát độ tuổi và phân tích tính cách của nhà phỏng vấn để không bị động trong mọi tình huống. Nếu nhà tuyển dụng là người năng động thì bạn hoàn toàn có thể thoải mái trao đổi. Nhưng nếu nhà tuyển dụng là người điềm đạm, hãy trả lời ngắn gọn, súc tích và tránh kể lể dài dòng. Điều này giúp bạn gây ấn tượng tốtvới nhà tuyển dụng.

25. Giữ kín mức lương và thưởng bạn mong muốn
Hãy khoan nói đến vấn đề lương, thưởng và coi đó không phải là vấn đề quan trọng nhất đối với bạn, mà hãy cho nhà tuyển dụng biết đây là cơ hội hai bên cùng có lợi, cho thấy bạn cần công việc này và việc tuyển dụng bạn là một khoản đầu tư hiệu quả cho công ty.

Sau khi đã chứng minh được năng lực và giá trị của bạn với nhà tuyển dụng, cách tốt nhất nói về mức lương là bạn cần phải biết rõ yêu cầu của công việc, mức lương tương ứng trên thị trường để có cơ sở thoả thuận về chế độ lương, thưởng, các quyền lợi khác nếu có.

26. Cảm ơn nhà tuyển dụng khi kết thúc phỏng vấn
Bạn hãy kết thúc buổi phỏng vấn với một cái bắt tay chặt và cảm ơn nhà tuyển dụng đã dành thời gian cho bạn. Bạn nên hỏi nhà tuyển dụng khi nào bạn nhận được kết quả phỏng vấn và cách mà bạn có thể liên lạc với nhà tuyển dụng liệu kết quả phỏng vấn.

Sau buổi phỏng vấn

27. Bạn hãy thư giãn.
Đừng quá lo lắng khi bạn không thể trả lời trôi chảy một số câu hỏi khó trong cuộc phỏng vấn. Đó cũng chính là một trong những mục đích của người phỏng vấn – xem bạn có thể xử lý tốt tình huống khi có áp lực không.

28. Hãy suy nghĩ tích cực.
Hãy nghĩ về điều mà bạn đã học được từ trải nghiệm này. Đừng tạo áp lực thắng thua cho chính bạn.

29. Ghi lại các câu trả lời của bạn.
Điều này có thể có ích trong trường hợp người phỏng vấn muốn nghe lại câu trả lời mà có thểhọ đã quên hoặc họ muốn thảo luận thêm về vấn đề đó.

30. Hãy chia sẻ nội dung buổi phỏng vấn của bạn với những người khác.
Khi bạn chia sẻ những trải nghiệm của bạn sau buổi phỏng vấn với người thân, bạn bè, bạn có thể nhận được những lời khuyên có ích từ những người ngoài cuộc, giống như là người phỏng vấn, họ có thể nói cho bạn biết câu trả lời của bạn có phù hợp hay không.

31. Chủ động liên lạc với nhà tuyển dụng sau phỏng vấn
Sau buổi phỏng vấn, bạn nên gửi email hoặc thư tay cảm ơn nhà tuyển dụng vì đã dành thời gian tiếp bạn, khẳng định bạn rất quan tâm đến công việc này và sẽ liên hệ lại với họ trong thời gian sớm nhất.
Nếu như bạn không trúng tuyển, hãy gửi thêm một tấm thiệp cảm ơn nhà tuyển dụng. Điều này sẽ giúp bạn khác biệt so với những ứng viên không trúng tuyển khác, đưa bạn lên vị trí khác trong mắt nhà tuyển dụng..
Hãy luôn tin tưởng rằng một công việc tốt hơn vẫn đang chờ đợi bạn trong tương lai gần. Còn có rất nhiều thứ để làm. Hãy tận hưởng.


Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2014

Động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa

Chúng ta đã tìm hiểu: Toàn cầu hóa là gì ? và hiểu đúng về quá trình toàn cầu hóa hiện nay, trong bài viết này, mình sẽ cùng các bạn tìm hiểu các động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hòa

Có hai động lực chính thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, đó là việc dỡ bỏ các rào cản trong các hoạt động thương mại và đầu tư ở các lĩnh vực; và sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ.

Động lực thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa
Việc dỡ bỏ các rào cản trong các hoạt động thương mại, đầu tư, dịch vụ, công nghệ, sở hữu trí tuệ giữa các nước và lãnh thổ trên phạm vi khu vực và toàn cầu cùng với sự hình thành và tăng cường các quy định, nguyên tắc, luật lệ chung với cơ chế tổ chức để điều chỉnh và quản lý các hoạt động, giao dịch kinh tế quốc tế theo hướng tự do hoá là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa. Đối với lĩnh vực hàng hóa, trong khuôn khổ của Hiệp định GATT, thương mại hàng hóa là lĩnh vực thể hiện rõ nét nhất việc dỡ bỏ các rào cản theo hướng tự do hóa.

Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ có tác động mạnh mẽ tới quá trình toàn cầu hóa, là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình này. Những tiến bộ của khoa học – kỹ thuật và công nghệ bao gồm những phát minh, sáng chế, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống mới, các phương pháp công nghệ hiện đại, các lý thuyết và phương thức quản lý mới trong mọi lĩnh vực được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh làm tăng năng suất lao động, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội với chi phí thấp hơn, giá rẻ hơn, tạo ra tiền đề thúc đẩy sự hình thành và phát triển sự phân công, chuyên môn hóa lao động, sản xuất và kinh doanh theo ngành nghề, vùng lãnh thổ và giữa các quốc gia. Nhờ đó, thương mại và trao đổi quốc tế về hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động và tri thức ngày một tăng.

Trong lĩnh vực sinh học, việc khám phá ra cấu trúc ADN, hiểu biết được mật mã của sự sống là một bước ngoặt trong lịch sử sinh học. Với những kỹ thuật về di truyền học, về gien và nuôi cấy tế bào, nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi và nguồn dinh dưỡng mới được tạo ra, góp phần nâng cao năng suốt nông nghiệp, tạo ra lương thực và thực phẩm dồi dào cho con người sử dụng và trao đổi. Trong vòng ba thập kỷ, sản xuất lương thực thế giới tăng trên 100% trong khi dân số tăng trên 60%.

Lĩnh vực thông tin chứng kiến những tiến bộ phi thường, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa. Với hệ thống các phương tiện và kỹ thuật thông tin hiện đại, cách mạng thông tin toàn cầu như điện thoại, fax, Internet… mối liên hệ qua lại và giao dịch giữa các cá nhân và doanh nghiệp ở mọi nơi trên thế giới trở nên nhanh chóng, thường xuyên và thuận tiện với chi phí ngày càng giảm dần; biên giới giữa các quốc gia trên nhiều phương diện đã và đang bị xóa mờ. Sự biến đổi trong lĩnh vực thông tin, đặc biệt đã biến thông tin trở thành môt thứ hàng hóa, truyền thông trở thành một trong những ngành công nghiệp hàng đầu trên thế giới. Nhờ vào công nghệ thông tin, thương mại điện tử ra đời và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Nhờ vào công nghệ thông tin, phương thức tổ chức và quản lý sản xuất – kinh doanh đã thay đổi vô cùng nhanh chóng. Một số nhà phân tích dự đoán rằng “Nền kinh tế điện tử„ sẽ tạo ra nhiều công ty với quy mô nhỏ, hoạt động thông qua mạng điện tử với cơ chế tạm thời hoặc không cần phải có một trụ sở làm việc chung.

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ cũng tạo ra nhiều loại vật liệu mới có chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn thay thế những vật liệu truyền thống. Từ những năm 1980 cho đến nay, thế giới đã tăng cường sử dụng những nguồn năng lượng và vật liệu mới, khiến cho lượng dầu lửa do các nước công nghiệp tiêu thụ giảm đi trung bình 1 tỷ tấn/năm. Tỷ lệ nguồn điện nguyên tử, thủy điện, năng lượng mặt trời được sử dụng ngày càng cao trong sản xuất và đời sống. Các vật liệu mới như chất dẻo đặc biệt, vật liệu tổng hợp, sợi quang học, gốm sứ… thay thế ngày càng nhiều nguyên liệu truyền thống. Tự động hóa cũng trở thành một nét đặc trưng của khoa học – công nghệ, nhiều khâu trong sản xuất được tự động hóa, lập trình khoa học.

Toàn cầu hóa quá trình sản xuất

Toàn cầu hóa quá trình sản xuất là quá trình cung ứng hàng hóa và dịch vụ từ các nơi trên toàn cầu để khai thác, tận dụng được sự khác biệt quốc gia về chi phí và chất lượng của các yếu tố sản xuất, như lao động, năng lượng, đất đai và vốn. Thông qua việc toàn cầu hóa quá trình sản xuất, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế kỳ vọng sẽ giảm được tổng cơ cấu chi phí hoặc tăng cường được chất lượng hoặc tính năng của sản phẩm họ cung ứng ra thị trường, nhờ đó giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường toàn cầu được hiệu quả hơn. 
Airbus A380

Xem xét ví dụ sản xuất máy bay dân dụng Airbus A380 – một trong những máy bay dân dụng lớn nhất kể từ trước cho tới năm 2006 (Xem Hình 1.1). Máy bay Airbus A380 có 2 tầng, 4 hành lang, có cánh máy bay rộng hơn 15m và có khả năng chuyên chở nhiều hơn 150 hành khách so với máy bay cạnh tranh tương đương 747-400 của Boeing. Để sản xuất được máy bay này, hãng Airbus phải bố trí 40.000 người tại 15 nhà máy đặt tại 4 nước: Đức, Tây Ba Nha, Vương quốc Anh và Pháp.

Hai quá trình toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa quá trình sản xuất vẫn đang tiếp tục tiếp diễn. Các công ty đa quốc gia, công ty quốc tế ngày càng tham gia vào quá trình này một cách sâu sắc và liên tục điều chỉnh các hoạt động của mình để phù hợp hơn các điều kiện kinh doanh ngày càng thay đổi nhanh chóng của quá trình toàn cầu hóa.


Tầm quan trọng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ có tác động mạnh mẽ tới quá trình toàn cầu hóa, là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình này. Những tiến bộ của khoa học – kỹ thuật và công nghệ bao gồm những phát minh, sáng chế, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống mới, các phương pháp công nghệ hiện đại, các lý thuyết và phương thức quản lý mới trong mọi lĩnh vực được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh làm tăng năng suất lao động, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội với chi phí thấp hơn, giá rẻ hơn, tạo ra tiền đề thúc đẩy sự hình thành và phát triển sự phân công, chuyên môn hóa lao động, sản xuất và kinh doanh theo ngành nghề, vùng lãnh thổ và giữa các quốc gia. Nhờ đó, thương mại và trao đổi quốc tế về hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động và tri thức ngày một tăng.


Cách mạng công nghệ lần thứ nhất và lần thứ hai
Sự phát triển của khoa học – công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ lần thứ nhất và lần thứ hai đã mở đường cho sự hình thành và phát triển nhanh chóng của thị trường thế giới. Nếu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất chủ yếu dựa vào máy hơi nước, sắt và than thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai chủ yếu dựa vào máy chạy bằng nhiên liệu lỏng, điện và năng lượng nguyên tử và những vật liệu đặc biệt: kim loại không sắt, chất dẻo, sợi hóa chất, đặc biệt là dựa vào những thành tựu của lĩnh vực thông tin và phương thức quản lý mới. Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ trong ngành giao thông và kỹ thuật thông tin làm cho thế giới bị thu nhỏ lại về không gian và thời gian. Các chi phí về vận tải, về thông tin ngày càng giảm, sự cách trở về địa lý dần được khắc phục, các quốc gia và dân tộc trở nên gần gũi hơn với những hình ảnh và thông tin được truyền hình liên tục về các sự kiện đang xẩy ra ở mọi nơi trên trái đất.

Trong thế kỷ XIX, sự ra đời của đường sắt đã làm giảm chi phí vận tải khoảng 85 – 95%. Trong khoảng 10 – 15 năm, phí vận tải đường biển đã giảm khoảng 70%; phí vận tải hàng không giảm mỗi năm khoảng 3 – 4%. Sự phát triển của máy tính cá nhân và thương mại điện tử đã diễn ra với tốc độ nhanh chóng hơn. Năng suất trong ngành công nghệ thông tin suốt trên ba thập kỷ tăng khoảng 5% một năm, cao gấp 5 lần so với tốc độ tăng năng suất chung của tất cả các ngành. Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ về công nghệ thông tin, kinh tế tri thức đang hình thành trong đó tri thức trở thành một lực lượng sản xuất ngày càng quan trọng, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế nói chung và từng loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất và tiêu thục trên thị trường quốc tế nói riêng.

Khoa học và công nghệ từ cuối thập niên 1970 đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất toàn cầu, làm thay đổi hầu hết mọi mặt hoạt động sản xuất cả về lượng và chất và mang tính quốc tế hóa cao độ. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ này đã làm cho nền kinh tế thế giới phát triển với tốc độ trên 3%/năm trong vòng hơn 20 năm. Hai cuộc cách mạng công nghiệp trước đây đã mang lại những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế và xã hội toàn cầu, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của sản xuất, tạo ra nguồn của cải phong phú cho loài người. Tuy nhiên, với hai cuộc cách mạng đầu tiên, hàm lượng vật chất (năng lượng, nguyên nhiên liệu, thiết bị máy móc, vốn và lao động) vẫn chiếm phần lớn trong một sản phẩm. Với cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay, hàm lượng vật chất trong các sản phẩm ngày càng giảm, hiện nay chỉ còn chiếm tỷ lệ bình quân từ 25 – 30% trong một sản phẩm, phần còn lại là hàm lượng tri thức. Đặc điểm này cũng thể hiện tính toàn cầu, tính quốc tế hóa của hoạt động lao động sản xuất ngày càng cao.

Cách mạng khoa học - công nghệ lần thứ ba
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ lần thứ ba gắn với sự ra đời của những công nghệ cao trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực sinh học, thông tin, tự động hóa, vật liệu mới và năng lực.

Trong lĩnh vực sinh học, việc khám phá ra cấu trúc ADN, hiểu biết được mật mã của sự sống là một bước ngoặt trong lịch sử sinh học. Với những kỹ thuật về di truyền học, về gien và nuôi cấy tế bào, nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi và nguồn dinh dưỡng mới được tạo ra, góp phần nâng cao năng suốt nông nghiệp, tạo ra lương thực và thực phẩm dồi dào cho con người sử dụng và trao đổi. Trong vòng ba thập kỷ, sản xuất lương thực thế giới tăng trên 100% trong khi dân số tăng trên 60%.

Lĩnh vực thông tin chứng kiến những tiến bộ phi thường, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa. Với hệ thống các phương tiện và kỹ thuật thông tin hiện đại, cách mạng thông tin toàn cầu như điện thoại, fax, Internet… mối liên hệ qua lại và giao dịch giữa các cá nhân và doanh nghiệp ở mọi nơi trên thế giới trở nên nhanh chóng, thường xuyên và thuận tiện với chi phí ngày càng giảm dần; biên giới giữa các quốc gia trên nhiều phương diện đã và đang bị xóa mờ. Sự biến đổi trong lĩnh vực thông tin, đặc biệt đã biến thông tin trở thành môt thứ hàng hóa, truyền thông trở thành một trong những ngành công nghiệp hàng đầu trên thế giới. Nhờ vào công nghệ thông tin, thương mại điện tử ra đời và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Nhờ vào công nghệ thông tin, phương thức tổ chức và quản lý sản xuất – kinh doanh đã thay đổi vô cùng nhanh chóng. Một số nhà phân tích dự đoán rằng “Nền kinh tế điện tử„ sẽ tạo ra nhiều công ty với quy mô nhỏ, hoạt động thông qua mạng điện tử với cơ chế tạm thời hoặc không cần phải có một trụ sở làm việc chung.

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ cũng tạo ra nhiều loại vật liệu mới có chất lượng tốt hơn, chi phí thấp hơn thay thế những vật liệu truyền thống. Từ những năm 1980 cho đến nay, thế giới đã tăng cường sử dụng những nguồn năng lượng và vật liệu mới, khiến cho lượng dầu lửa do các nước công nghiệp tiêu thụ giảm đi trung bình 1 tỷ tấn/năm. Tỷ lệ nguồn điện nguyên tử, thủy điện, năng lượng mặt trời được sử dụng ngày càng cao trong sản xuất và đời sống. Các vật liệu mới như chất dẻo đặc biệt, vật liệu tổng hợp, sợi quang học, gốm sứ… thay thế ngày càng nhiều nguyên liệu truyền thống. Tự động hóa cũng trở thành một nét đặc trưng của khoa học – công nghệ, nhiều khâu trong sản xuất được tự động hóa, lập trình khoa học.

Ý nghĩa việc dỡ bỏ các rào cản trong các hoạt động kinh tế

Phần lớn các nước trên thế này vẫn duy trì các rào cản trong hoạt động kinh tế nhằm mục đích bảo hộ cho các doanh nghiệp trong nước khỏi sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài. Chúng ta dễ nhận thấy như các mức giá chống bán phá giá, hạn nghạch...mà Mỹ áp dụng cho các hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam như mặt hàng thủy sản, giầy da, may mặc...

Việc dỡ bỏ các rào cản trong các hoạt động thương mại, đầu tư, dịch vụ, công nghệ, sở hữu trí tuệ giữa các nước và lãnh thổ trên phạm vi khu vực và toàn cầu cùng với sự hình thành và tăng cường các quy định, nguyên tắc, luật lệ chung với cơ chế tổ chức để điều chỉnh và quản lý các hoạt động, giao dịch kinh tế quốc tế theo hướng tự do hoá là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa. Đối với lĩnh vực hàng hóa, trong khuôn khổ của Hiệp định GATT, thương mại hàng hóa là lĩnh vực thể hiện rõ nét nhất việc dỡ bỏ các rào cản theo hướng tự do hóa.

Ý nghĩa việc dỡ bỏ các rào cản trong các hoạt động kinh tế

Từ năm 1947 đến nay đã diễn ra 8 vòng đàm phán để cắt giảm thuế quan. Kết quả của các vòng đàm phán đã đưa thuế quan của các nước công nghiệp phát triển giảm xuống từ 40% năm 1947 xuống còn gần 10% vào cuối thập niên 1960 và dưới 4% sau khi hoàn thành thực hiện các cam kết của vòng đàm phán Urugoay. Hiệp định đạt được tại vòng đàm phán Urugoay làm giảm tới 38% mức thuế quan của hàng nghìn mặt hàng trên thế giới. Về hàng rào phi thuế quan, tổ chức WTO cũng như các khuôn khổ khu vực đều đưa vào trong chương trình đàm phán. Vòng đàm phán Urugoay đã đề cập tới một các lĩnh vực liên quan tới các hàng rào phí thuế quan như biện pháp vệ sinh an toàn và kiểm dịch động thực vật, các rào cản kỹ thuật, các quy định về định giá hải quan, quy tắc xuất xứ…

Trên phạm vi khu vực, hàng rào thuế quan nội khối đã được gỡ bỏ như trong EU, NAFTA, AFTA. Đối với lĩnh vực thương mại dịch vụ, Hiệp định GATS trong khuôn khổ của WTO là nỗ lực đầu tiên nhằm xây dựng các quy định trên phạm vi toàn cầu để quản lý các luồng lưu chuyển dịch vụ giữa các quốc gia. Hiệp định đã đưa ra các nguyên tắc mang tính chất khung, dựa vào đó các nước đưa ra những cam kết cụ thể về mở cửa và tiếp cận thị trường.


Thứ Bảy, 14 tháng 6, 2014

{Tìm hiểu} Toàn cầu hóa thị trường là gì?

Toàn cầu hóa thị trường là việc thị trường quốc gia riêng biệt và đặc thù đang hội nhập dần hình thành thị trường toàn cầu. 

>> Những biểu hiện của toàn cầu hóa

Việc dỡ bỏ các rào cản thương mại qua biên giới đã làm cho việc kinh doanh quốc tế ngày càng trở nên dễ dàng. Thị hiếu của người tiêu dùng ở các nước khác nhau cũng có xu hướng tiệm cận lại gần với nhau và với chuẩn mực toàn cầu, góp phần tạo thị trường toàn cầu. Các sản phẩm tiêu dùng như thẻ tín dụng của hãng Citigroup, đồ uống Coca-cola, thiết bị chơi game Sony PlayStation, bánh kẹp McDonald‟s … đang được coi là những ví dụ điển hình minh chứng cho xu hướng này. Các doanh nghiệp quốc tế, công ty đa quốc gia không chỉ là chủ thể hưởng lợi từ xu hướng này mà còn tích cực khuyến khích cho xu hướng này mở rộng và phát triển. Bởi việc cung cấp cùng một sản phẩm trên toàn thế giới, các doanh nghiệp này góp phần tạo ra thị trường toàn cầu.

Cocacola-Toàn cầu hóa thị trường là gì?

Một doanh nghiệp không nhất thiết phải có một quy mô khổng lồ như một công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia để được hưởng lợi từ quá trình toàn cầu hóa các thị trường. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, gần 90% các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm là các doanh nghiệp nhỏ có ít hơn 100 người lao động, và tỷ trọng xuất khẩu của những doanh nghiệp này chiếm tới trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Hoa Kỳ. Tại Đức, một trong những quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới, gần 98% các doanh nghiệp vừa và nhỏ đều tham gia vào thị trường quốc tế thông qua hoạt động xuất khẩu hoặc sản xuất quốc tế.

Mặc dù có những ví dụ thể hiện thị trường toàn cầu đang hình thành mạnh mẽ như thẻ tín dụng Citigroup, bánh kẹp McDonald‟s… thì chúng ta cũng cần lưu ý không hẳn thị trường quốc gia đang mở rộng cửa để trở thành thị trường toàn cầu. Điều này xẩy ra bởi lẽ những khác biệt đáng kể vẫn tồn tại giữa những thị trường quốc gia như thị hiếu người tiêu dùng, hệ thống kênh phân phối, hệ thống giá trị văn hóa, hệ thống doanh nghiệp, và quy định luật pháp. Sự khác biệt này thường xuyên đòi hỏi doanh nghiệp phải điều chỉnh các chiến lược marketing, các đặc điểm thiết kế sản phẩm, hay phương pháp vận hành doanh nghiệp để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia.

bánh kẹp McDonald‟s

Những thị trường có tính chất toàn cầu nhất thường không phải là những thị trường hàng tiêu dùng. Lý do là bởi lẽ sự khác biệt về thị hiếu người tiêu dùng của mỗi quốc gia vẫn duy trì là yếu tố quyết định làm cản trở quá trình toàn cầu hóa các thị trường này. Thị trường hàng công nghiệp và nguyên nhiên vật liệu thì có tính toàn cầu hơn do nhu cầu trên thế giới về cơ bản là giống nhau. Đó bao gồm những thị trường nguyên liệu như nhôm, dầu và lúa mì; các sản phẩm công nghiệp như bộ vi tính, chip nhớ của máy tính, máy bay dân dụng, phần mềm máy tính hay các sản phẩm tài chính như trái phiếu Chính phủ Hoa Kỳ, kỳ phiếu của chỉ số Nikkei… Trên nhiều thị trường toàn cầu, các doanh nghiệp hoạt động giống nhau thường cạnh tranh quyết liệt với nhau ở quốc gia này rồi ở quốc gia kia. Cuộc cạnh tranh của Coca-cola với Pepsi Co là cuộc cạnh tranh toàn cầu, tương tự như vậy cạnh tranh giữa Boeing và Airbus, của hãng McDonal‟s và KFC…


Những biểu hiện của toàn cầu hóa

Thứ nhất, toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng ngày càng mạnh mẽ của các luồng giao lưu quốc tế về hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như vốn, công nghệ, nhân công…

Có thể nói thương mại quốc tế là thước đo đầu tiên của mức độ toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau của các nước. Khi các nước trao đổi hàng hóa và dịch vụ cho nhau đó cũng chính là quá trình các nước xóa nhòa dần sự biệt lập giữa các nền kinh tế quốc gia. Thương mại thế giới đã tăng lên nhanh chóng. Trong vòng 100 năm từ 1850 – 1948, thương mại thế giới tăng lên 10 lần, trong giai đoạn 50 năm tiếp theo từ 1948 -1997, tăng 17 lần. Từ giữa thập niên 1970 đến giữa thập niên 1990, mức tăng bình quân của xuất khẩu thế giới là 4,5%. Trong giai đoạn này, đánh dấu bắt đầu từ năm 1985, hàng năm tốc độ tăng bình quân của xuất khẩu hàng hóa thế giới là 6,7%, trong khi đó sản lượng thế giới chỉ tăng lên 6 lần. Sự phát triển của thương mại thế giới và khoảng cách ngày càng tăng giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ phát triển thương mại quốc tế thể hiện mức độ toàn cầu hóa ngày càng cao.

>> Toàn cầu hóa là gì ? Hiểu thế nào cho đúng

Những biểu hiện của toàn cầu hóa

Sự phát triển trao đổi dịch vụ giữa các nước ngày càng có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế và đóng góp tích cực vào xu hướng toàn cầu hóa. Trong vòng 10 năm từ 1986 đến 1996, thương mại dịch vụ thế giới tăng gấp gần 3 lần, từ 449 tỷ USD lên 1.260 tỷ USD. Các nước phát triển có mức tăng thương mại dịch vụ cao gấp 3 lần so với mức tăng thương mại hàng hóa và trở thành khu vực đóng góp chủ yếu vào GDP (Hoa Kỳ là 76%, Canada là 80%, Nhật Bản là 65%, EC là 64%).

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sự di chuyển tư bản (vốn và tiền tệ) giữa các nước là một yếu tố ngày càng quan trọng đối với từng nền kinh tế quốc gia nói riêng và toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung. Các luồng FDI có tốc độ tăng nhanh hơn cả mức tăng của thương mại hàng hóa và dịch vụ quốc tế, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của toàn cầu hóa. Trong những năm 1970, các luồng FDI hàng năm ở vào khoảng 27 – 30 tỷ USD; trong nửa đầu của thập niên 1980, con số này là 50 tỷ USD; trong nửa cuối của thập niên của 1980 là 170 tỷ USD; năm 1995 gần 400 tỷ USD, 1998 là 845 tỷ USD, năm 2000 vượt trên 1.000 tỷ USD, năm 2007 là 1.900 tỷ USD. Đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ tăng nhanh, hiện nay chiếm khoảng 50%. Cac luồng FDI vào các nước phát triển chiếm ¾ tổng số FDI trên thế giới. Tuy nhiên, đầu tư vào lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu, gắn với luồng lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ bên trong hệ thống của các công ty đa quốc, xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển từ năm 1990 có xu hướng tăng lên.

Thứ hai, toàn cầu hóa thể hiện qua sự hình thành và phát triển các thị trường thống nhất trên phạm vi khu vực và toàn cầu. 

Trong thời gian nửa đầu của thập kỷ 1990, theo thống kê của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có tới 33 thỏa thuận liên kết kinh tế khu vực dưới dạng các thỏa thuận thương mại ưu đãi, khu vực mậu dịch tự do, liên minh thuế quan, liên minh kinh tế được ký kết đã thông báo cho Ban thư ký của WTO. Số lượng này nhiều gấp 3 lần số lượng các thỏa thuận được ký trong thập kỷ 1980 và bằng gần 1/3 tổng số các thỏa thuận liên kết khu vực được ký trong giai đoạn 1947 – 1995. Riêng trong giai đoạn từ 2000 – 2008, có trên 140 thỏa thuận liên kết khu vực đã được thông báo cho WTO. Cùng với các thỏa thuận trên, nhiều tổ chức hợp tác kinh tế đa phương thế giới và khu vực đã ra đời, ngày càng được tăng cường về số lượng và cơ chế tổ chức. Theo số liệu thống kê của Liên minh các Tổ chức Quốc tế, ta có thể thấy nếu như tính vào năm 1909, số lượng các tổ chức quốc tế trên toàn cầu chỉ là 213 thì đến năm 1960, con số này là 1.422 tổ chức, năm 1981 là 14.273, năm 1991 là 28.200; năm 2001 là 55.282 và 2006 là 58.859 tổ chức. Trên phạm vi toàn cầu, ngoài các tổ chức kinh tế – tài chính được thành lập trước đây như hệ thống các tổ chức thuộc Liên Hợp quốc, năm 1995, trên cơ sở Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã được hình thành, hiện có 153 nước và lãnh thổ kinh tế độc lập là thành viên, chiếm tới trên 90% tổng giá trị thương mại thế giới. Ở phạm vi khu vực, các tổ chức và cơ chế liên kết kinh tế cũng được tăng cường. Tại Châu Âu, Liên minh Châu Âu EU với số lượng

27 nước thành viên hiện nay đã trở thành một liên kết quốc tế chặt chẽ toàn diện ở hầu hết mọi lĩnh vực. Ở Châu Á-Thái Bình Dương, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)… đã ra đời và ngày càng tích cực đóng góp vào quá trình tăng cường liên kết quốc tế về thương mại trong khu vực. Tại Châu Mỹ, ta có thể sự hình thành liên kết khu vực qua việc hình thành Khu vực mậu dịch tự do Bắc Hoa Kỳ (NAFTA), Hiệp hội liên kết Hoa Kỳ La Tinh (LAIA), Thị trường chung Nam Hoa Kỳ (MERCOSUR), nhóm các nước ANDEAN, Cộng đồng Caribe và Thị trường chung (CARICOM), Thị trường chung Trung Hoa Kỳ (CACM)… Tại Châu Phi, Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi (ECOWAS), Liên minh kinh tế và thuế quan Trung Phi (UDEAC), Cộng đồng phát triển miền Nam Châu Phi (SADC), Liên minh Châu Phi (AU) là những nỗ lực để hình thành những khối thị trường chung và thống nhất trong khu vực.

Thứ ba, toàn cầu hóa thể hiện qua sự gia tăng số lượng, quy mô và vai trò ảnh hưởng các công ty xuyên quốc gia tới nền kinh tế thế giới. 

Theo số liệu của UNCTAD, năm 1998 có 53.000 công ty xuyên quốc gia với 450.000 công ty con ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Năm 2000, trên thế giới có khoảng 63.000 công ty xuyên quốc gia với 700.000 các công ty con ở khắp các nước. Năm 1995, các công ty xuyên quốc gia bán ra một lượng hàng hóa và dịch vụ có giá trị bằng 7.000 tỷ USD. Năm 1999, tổng doanh số ban ra của công ty xuyên quốc gia đã đạt đến giá trị 14.000 tỷ USD. Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia chi phối và kiểm soát trên 80% thương mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp ở nước ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu chuyển giao công nghệ trên thế giới. Hệ thống dày đặc các công ty xuyên quốc gia này không những đã tạo ra một bộ phận quan trọng của lực lượng sản xuất thế giới mà còn liên kết các quốc giá lại với nhau ngày càng chặt chẽ hơn, góp phần làm cho quá trình toàn cầu hóa trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết.